Truy cập

Hôm nay:
115
Hôm qua:
247
Tuần này:
451
Tháng này:
4344
Tất cả:
45010
1. Tên đơn vị: Xã Hà Lan, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Địa chỉ: Xã Hà Lan, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Số điện thoại: 02373.760.571
- Email:…………….Fax:………..…………….
2. Lịch sử hình thành xã Hà Lan
Xã Hà Lan được thành lập năm 1954. Từ năm 1954 đến năm 1977 xã Hà Lan thuộc huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa. Từ năm 1977 đến năm 1981 xã Hà Lan thuộc Huyện Trung Sơn (Hà Trung và Nga Sơn) tỉnh Thanh Hóa. Từ năm 1981 đến nay xã Hà Lan thuộc thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Vùng đất Hà Trung, Bỉm Sơn nằm trong khu vực cư trú của người Việt cổ với những di tích lịch sử và những tư liệu về khảo cổ học quanh vùng đã xác định cùng với những cư dân quanh vùng Hà Trung, Bỉm Sơn, những cư dân đầu tiên của xã Hà Lan là Kẻ gạo đã xuất hiện vào cuối thời Hùng Vươngtức là vào cuối thời kỳ nhà nước Văn Lang, từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ III trước Công nguyên.
Trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển, nằm trong vùng đất Hà Trung và Bỉm Sơn, xã Hà Lan đã nhiều lần điều chỉnh lại địa giới và thay đổi tên gọi.
Thời Hùng Vương vùng đất Hà Lan thuộc bộ Cửu Chân trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang.
Thời kỳ Bắc thuộc: Vùng đất Hà Lan thời Hán thuộc huyện Dư Phát Quận Cửu Chân; thời Tam Quốc - Lưỡng Tấn - Nam Bắc Triều thuộc huyện Kiến Sơ, Châu ái; thời Tùy thuộc huyện Nhật Nam quận Cửu Chân; thời Đường là một phần đất của huyện Sùng Bình và Nhật Nam, Châu Ái.
Thời kỳ tự chủ: Thời Đinh - Lê - Lý vùng đất Hà Lan thuộc phần đất huyện Sùng Bình và Nhật Nam, Châu Ái. Thời Trần - Hồ thuộc huyện Tống Giang, Châu Ái; Thời thuộc Minh thuộc huyện Tống Giang Châu Ái; Thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497), niên hiệu Quang Thuận thứ VII (1466) thuộc huyện Tống Giang thừa Tuyên Thanh Hóa, niên hiệu Hồng Đức thứ XXI (1490) thuộc huyện Tống Giang, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hoa; thời Lê Trung Hưng (1533 - 1788), khoảng từ năm 1729 đến năm 1740 thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, Thanh Hoa nội trấn.  Thời kỳ đầu nhà Nguyễn thuộc tổng Đông Bạn[1], Huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, nội trấn Thanh Hoa, từ năm Minh Mạng thứ XII (1831). Vùng đất Hà Lan thuộc tổng Đông Bạn, Huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 vùng đất Hà Lan thuộc Tổng Đông Bạn, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến tháng 6 năm 1946 các thôn của xã Hà Lan thuộc tổng Đông Bạn, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Từ tháng 6 năm 1946 đến tháng 9 năm 1947 là xã Tống Duy Tân thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Từ tháng 9 năm 1947 đến tháng 5 năm 1954 là xã Tống Giang thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Từ giữa năm 1954 đến tháng 9 năm 1977 là xã Hà Lan thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Các thôn Đoài Thôn, Điền Lư, Đa Nam, Đông Thôn của xã Tống Giang, thêm 2 thôn Cổ Đam, Nghĩa Môn của xã Hoạt Giang nhập vào thành xã Hà Lan. Vị trí địa giới của xã Hà Lan lúc ấy Bắc giáp dãy núi Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, Tây giáp xã Hà Dương, Đông giáp xã Hà Vinh, Nam giáp các xã Hà Thanh, xã Hà Vân (huyện Hà Trung), xã Nga Vịnh (huyện Nga Sơn). Tháng 6 năm 1977 theo quyết định số 140/BT của Bộ trưởng Phủ Thủ Tướng thành lập thị trấn Bỉm Sơn, sau khi đào sông Tam Điệp các thôn: Cổ Đam, Nghĩa Môn, Đông Thôn, các khu dân cư khu phố 2 (phường Lam Sơn), xóm Sơn Nam (Phường Đông Sơn) nhập vào thị trấn Bỉm Sơn. Xã Hà Lan còn lại 4 thôn: Đoài Thôn, Điền Lư, Liên Giang, Xuân Nội, vị trí địa giới như ngày nay. Tháng 7 năm 1977 theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ hợp nhất 2 huyện Hà Trung, Nga Sơn thành huyện Trung Sơn từ tháng 9 năm 1977 đến ngày 18 tháng 12 năm 1981. Xã Hà Lan thuộc huyện Trung Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Theo Quyết định số 157/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng thành lập thị xã Bỉm Sơn, xã Hà Lan thuộc thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa từ ngày 18 tháng 12 năm 1981 cho đến nay.
3. Điều kiện tự nhiên.
Xã Hà Lan thuộc Thị xã Bỉm Sơn, Tỉnh Thanh Hóa, nằm ở phía Đông Nam, cách trung tâm Thị xã 5 km. Được trải dài từ Bắc xuống Nam, từ Tây sang Đông. Phía Bắc giáp các phường Lam Sơn, Đông Sơn; phía Nam giáp các xã: Hà Thanh, Hà Vân huyện Hà Trung, xã Nga Vịnh Huyện Nga Sơn; phía Đông giáp xã Hà Vinh huyện Hà Trung và phía Tây giáp xã Quang Trung. Diện tích đất tự nhiên 627,63 ha, dân số 3.124 người (năm 2016). Xã Hà Lan có 4 thôn: Đoài Thôn, Điền Lư, Liên Giang, Xuân Nội. Nhân dân trong xã sống hòa hợp, gắn bó, đoàn kết chặt chẽ với nhau trong quá trình xây dựng và phát triển.
Với tổng diện tích đất tự nhiên là 627,63 ha (trong đó đất nông nghiệp là 389,84 ha, đất phi nông nghiệp là 202,78 ha và đất chưa sử dụng là 34,45 ha). Đất nông nghiệp có khả năng trồng cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp như: lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừng, chè, chẩu; cây ăn quả lâu năm và ngắn ngày như: bưởi, cam, chanh, na, mít, ổi, dứa, chuối và có thể phát triển chăn nuôi: trâu, bò, dê, lợn, gà, vịt, cá, tôm... Hà Lan có đất sét dẻo chất lượng tốt là nguyên liệu chính để sản xuất gạch, ngói với trữ lượng lớn ở 2 thôn Đoài Thôn và Xuân Nội.
 
Về địa hình, xã Hà Lan vừa mang đặc điểm vùng bán sơn địa, vừa mang đặc điểm của vùng chiêm trũng.
Về thuỷ văn, địa hình xã Hà Lan có 3 con sông chảy qua, sông Tống và sông Hoạt ở phía Nam, sông Tam Điệp ở phía Bắc. Sông Tống trước đây là nguồn cung cấp nước cho sản xuất và nguồn thủy sản phong phú, làm đường giao thông thủy nội bộ.
Sông Hoạt phía dưới chảy qua xã Hà Vinh ra Chính Đại, Điền Hộ ra cống Càn, ra biển, tại Chính Đại một nhánh chảy ra sông Đáy. Đầu trên đoạn sông Hoạt chảy ra ngã Tư tuần, đến cửa Kênh Nga hợp với sông Mã đi xuôi qua Bạch Câu, nhánh đi ngược lên Ba Bông, đi sông Chu.
Sông Tam Điệp được đào từ năm 1978 để ngăn và tiêu lũ về mùa mưa, lấy nước tưới về mùa khô.
Với vị trí địa lý như trên, Hà Lan chịu ảnh hưởng chung của khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, một năm có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông; có 2 mùa nóng lạnh rõ rệt, mùa đông lạnh có sương giá, sương muối, ít mưa; mùa hè nóng, có gió tây khô nóng và nhiều mưa. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,60C, tháng nóng nhất là tháng 7 (nhiệt độ trung bình là 280C, có ngày nhiệt độ lên tới 370C - 380C, cao nhất là 410C); nhiệt độ thấp nhất là tháng giêng (trung bình 160C). Lượng mưa trung bình năm là 1.514mm/năm, năm cao nhất là 2.106 mm/năm, năm thấp nhất là 776 mm/năm. Mùa mưa xã Hà Lan bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào cuối tháng 10. Mùa ít mưa gần trùng với mùa Đông, ít mưa nhất là tháng 12. Độ ẩm không khí trung bình là 80%. Hướng gió chuyển biến theo mùa. Hằng năm có gió Đông Nam thổi vào mùa hè, gió Đông Bắc thịnh hành vào mùa Đông. Trong các tháng 5, 6, 7 có gió Tây (gió Lào) khô nóng.
Về giao thông, hiện nay hệ thống giao thông của Hà Lan đang dần được hoàn thiện, toàn xã có 23,92 km đường giao thông, trong đó đường tỉnh lộ chạy qua xã từ cầu Hà Lan đến cầu Đa Nam dài 3,5 km. Đường huyện lộ (Bỉm Sơn đi Hà Thanh) dài 1,20 km, đường liên xã (Hà Lan đi Quang Trung, Hà Lan đi Hà Vinh) dài 2,48 km. Hệ thống giao thông nội xã với tổng chiều dài 16,72 km, trong đó có 7,62 km đường nhựa và 1,87 km đường bê tông, 6,78 km đường cấp phối và đường đất, góp phần quan trọng đến việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng ở địa phương.
Thủy lợi xã Hà Lan có sông và đê Tam Điệp công trình tiêu lũ, chống úng về mùa mưa, lấy nước tưới tự chảy về mùa đông xuân qua 2 cống T5, T9. Hà Lan có 2 trạm bơm điện Đoài Thôn và Tam Đa với tổng công suất là 20.000 m3/h để bơm nước chống lụt úng về mùa mưa, chống hạn về mùa khô; Có 35 km mương tưới, tiêu, trong đó mương cứng có 11,5 km.
4. Truyền thống văn hóa, di tích lịch sử.
Trải qua hàng nghìn năm xây dựng bảo vệ quê hương, đất nước các thế hệ người Hà Lan cha truyền con nối đã xây dựng nên đời sống văn hóa cao đẹp, sôi nổi, phong phú. Truyền thống văn hóa của quê hương được thể hiện ở tư tưởng, đạo đức, tình cảm và lối sống có đạo lý. Trước hết nhân dân Hà Lan yêu quý, tự hào, xây dựng, đấu tranh, bảo vệ đất nước, quê hương của mình rồi đến giữ và làm tròn đạo làm người. Thờ cúng tổ tiên, kính trọng ông, bà, cha, mẹ, yêu thương anh chị em, ngoan hiền, hiếu thảo, trung thực, ngay thẳng, đạo vợ chồng thủy chung hòa thuận, đạo thầy trò cao quý, tình bằng hữu trong sáng. Người có công với nước, với dân, người có chức sắc, thành đạt, người học giỏi đỗ đạt cao đều được biết ơn, ghi công, trọng vọng, nêu gương, tôn vinh, học tập. Đời đời kế tiếp nhau, nhân dân xã Hà Lan không chỉ chăm lo xây dựng phát triển kinh tế mà còn chăm lo vun đắp cho nền văn hóa quê hương ngày thêm tốt đẹp.
Hiếu học, khuyến học là truyền thống văn hóa quý báu của nhân dân Hà Lan. Nhân dân Hà Lan rất coi trọng việc học và khuyến học. Bà con các làng xóm bằng nhiều hình thức luôn luôn giúp đỡ cho học trò nghèo hiếu học, thưởng cho các học trò chăm học, học giỏi. Làng khuyến khích việc mở trường tư, lớp tư. Ngoài mời thầy là người làng dạy học còn mời thầy ở nơi khác về dạy học. Những người đỗ đạt được làng miễn sai dịch và sắp xếp chỗ ngồi cao hơn trong việc làng ở đình. Một số nho sĩ đỗ hay không đỗ tam trường được nhân dân yêu cầu đều mở trường dạy chữ nho như các thầy đồ: Vũ Đình Chu ở xóm Điền Lư, Tống Doãn Hiệp, Nguyễn Văn Tích, Tống Ngọc Thụ, Trần Văn Hỗ ở làng Đoài Thôn. Học trò là người làng và người các làng khác trong vùng. Làng Đoài Thôn còn mời thầy đồ Tước người Nam Định, thôn Đa Nội mời thầy đồ Lăng (người làng Lăng xã Hà Hải) về dạy cho con em làng. Các trường lớp của các thầy đồ dạy ở làng hàng năm đều có đông học trò đến học.
Thôn Đoài Thôn có hội làng văn (Hội Tư văn) của những người có học hành, đỗ đạt. Hội Tư văn có nhiệm vụ khuyến khích việc học tập của con em địa phương, tổ chức các kỳ tế lễ ở văn chỉ của làng, của tổng; tổ chức các buổi bình thơ, đọc sách; đọc văn tế tại các đình miếu; làm câu đối để mừng thọ, mừng xuân, mừng người đỗ đạt. Thôn Đoài Thôn có văn chỉ thờ Khổng Tử. Hàng năm tế lễ ở văn chỉ đã khích lệ lớn đến sự học hành, mở mang, nâng cao dân trí, giữ gìn nề nếp hương thôn ở địa phương.
Thực dân Pháp thống trị, thi hành chính sách ngu dân, chúng hạn chế mở trường học, vì vậy nên trước năm 1945 xã Hà Lan chỉ có một số người theo học các trường lớp.
Truyền thống hiếu học ở xã Hà Lan đã được các thế hệ con cháu phát huy từ những năm sau cách mạng tháng 8 năm 1945.
Những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp trong xã số người theo học cấp II rất ít; trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhất là sau năm 1975 phong trào học tập ở địa phương không ngừng được phát triển, số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, học trung cấp, cao đẳng, đại học năm sau cao hơn năm trước, kết quả đó đã và đang tích cực góp phần vào công cuộc xây dựng, bảo vệ quê hương, đất nước giàu đẹp, văn minh.
Ngoài tín ngưỡng truyền thống thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ thể hiện đức hiếu nghĩa và tình cảm uống nước nhớ nguồn ở từng gia đình, dòng họ, các thôn trong xã đều có chùa thờ phật như chùa Thiên phúc (Thiên Phúc Tự), chùa Chén (Ngọc Chản Tự) ở Đoài Thôn, chùa Dương Sinh (Dương Sinh Tự) ở Điền Lư, chùa Gon ở Liên Giang, chùa Thanh Vân (Thanh Vân Tự) ở Xuân Nội. Các ngày sóc vọng (rằm, mồng một) hàng tháng các già làng đều thường lên chùa dâng hương lễ phật để tu nhân tích đức, cầu phật phù hộ độ trì cho an lành. Các thôn còn có nhiều đền, nghè, miếu để thờ thần.
Trong xã có các ngôi đình Đoài Thôn, đình Điền Lư, đình Đa Nam để thờ Thành hoàng làng và các danh nhân có công với dân với nước.
Do chiến tranh và thời gian lâu dài không được bảo quản gìn giữ nên đình Đa Nam không còn, đình Điền Lư còn nhưng hư hỏng nhiều, chỉ còn đình làng Đoài Thôn được bảo vệ tu bổ sửa chữa. Đình Đoài Thôn được xây dựng theo kiểu "Tiền nhất hậu đinh", "chồng dường kẻ bẩy", cột gỗ lim, xà, đòn tay, dui bằng gỗ quý. Đình có từ đầu thời Trần, xây dựng lại từ đầu thời Nguyễn. Đình làng Đoài Thôn thờ Thành hoàng làng là Tô Hiến Thành "Thượng đẳng tối linh thần". Tống Sơn Quốc Sư "Thượng đẳng tối linh thần". Đình Đoài Thôn được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1993.
Đạo Thiên chúa từ phương Tây truyền vào địa phương từ đầu thế kỷ XVI ở 2 xóm Tích Giang, Triết Giang, sang thế kỷ thứ XIX hai họ đạo Đa Nam, Tây Hà xây dựng 2 nhà thờ: Đa Nam, Tây Hà.
Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 các làng đều có các phường Bội, phường Chèo, sau cách mạng tháng 8 năm 1945 các làng có các đội văn nghệ. Trưởng trò, đội trưởng, diễn viên đều là người làng, biểu diễn trong các dịp lễ hội của làng, ăn mừng thượng thọ, thăng quan, tiến chức, được ban phẩm hàm hoặc thi cử đỗ đạt, mừng chiến thắng, đại hội,... nội dung các tích trò, vở diễn vừa giáo dục vừa mua vui con cháu nhân dân trong làng xóm. Sau tết âm lịch trong các tháng: giêng, hai, nhân dân các làng đều tham gia lễ hội truyền thống ở đình làng. Ban ngày hội làng có rước kiệu, tế lễ trang nghiêm trịnh trọng, tổ chức các trò chơi: kéo co, đánh cờ, đấu vật, chọi gà, bắn nõ. Ban đêm xem các phường bội, phường chèo, đội văn nghệ diễn các tích chuyện hay. Vào những ngày rằm hàng tháng giêng, tháng hai ở các đền có hầu bóng, hát văn. Ngoài ra những đêm trăng thanh gió mát nhân dân nhất là trai gái các làng còn hát Đúm, hát Trống quân, Cò lả,... ngợi ca cộng đồng sống hòa thuận, đồng ruộng xóm làng thân yêu./.